110 NĂM BÀI THƠ VỊNH HOA MAI TRẮNG CỦA SƯƠNG NGUYỆT ÁNH

 

        110 NĂM

      BÀI THƠ VỊNH HOA MAI  TRÊN NÚI BÀ ĐEN

 

Sương Nguyệt Ánh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Khuê ( 1864-1922) bút danh là Sương Nguyệt Ánh. (Sinh ngày 8-3-1864 mất ngày 9-1-1922) được coi là người chủ bút nữ đầu tiên của giới báo chí Việt Nam. Bà là con gái thứ tư của của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. 

Từ nhỏ sống bên cha hẳn bà đã ảnh hưởng tinh thần yêu nước thương dân khí phách hiên ngang của cha: "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà?".

Sương Nguyệt Ánh nổi tiếng thông minh từ nhỏ. Ở bên cha khi về Ba Tri Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy chữ Nho học trò đến rất đông Nguyệt Ánh cũng được cha dạy học cho nên bà có thể làm thơ xướng họa được với các Nho sĩ đương thời và là một người hay chữ.

Sương Nguyệt Ánh luôn làm thơ nhắc nhở mọi người hãy nhớ đến cảnh nhà tan nước mất phải có ý thức hãy sống sao không hổ với một đất nước có truyền thống đánh giặc giữ nước hào hùng...

Có một viên tri phủ đeo đuổi Nguyệt Ánh hoài nhưng bà kiên quyết từ chối bởi y làm quan cho Pháp. Mãi năm 24 tuổi bà mới chịu lấy chồng là ông Nguyễn Công Tính ở Tổng Hòa Quới huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre...

Ít lâu sau chồng mất bà ở góa dù còn rất trẻ. Là người có học hòa nhã nên nhiều người còn nhăm nhe mong bà tục huyền. Bà thêm chữ Sương ở tên hiệu để tỏ rõ chí thờ chồng nuôi con của mình (Sương trong nghĩa sương phụ là người đàn bà góa). Và khi bà nhận làm chủ bút thì đây cũng là bút danh: Sương Nguyệt Ánh.

Đầu năm 1918 nhân lời mời của viên Tổng lý báo chí Nam Kỳ là Trần Văn Chim Sương Nguyệt Ánh lên Sài Gòn làm chủ bút tờ Nữ giới chung (Tiếng chuông giới phụ nữ)...

Tờ báo tập hợp được những cây bút báo chí khá tiến bộ lên tiếng đòi nam nữ bình quyền thúc giục vận động giới phụ nữ hãy học hành đấu tranh được ngang hàng với nam giới...; lấy những gương sáng của phụ nữ các nước tiên tiến ở châu Âu châu Mỹ để khuyến khích chị em.

Trong một bài bàn về nữ quyền Sương Nguyệt Ánh viết:

"Thời thế bể dâu cục diện đã khác...

Ngày nay ngọn sóng Âu tràn qua Nam Hải các khoa học mênh mông công nghệ thế ấy học thuật thế kia. Trông người mà ngẫm đến ta tình cảm buồn mà không buồn lại buồn cảnh bông tàn trăng khuyết lý tưởng làm sao mà lạ vậy?

Kìa ta mở cặp mắt ngó ra Hoàng Hải người Âu Mỹ làm thầy giáo cũng đàn bà mà thầy Kiện (luật sư - NVP) cũng đàn bà trong tay sẵn có một nghề không phải nương nhờ người nam tử. ấy cái học người ta như thế há như người mình không bệnh mà rên!

Chị em ơi!... Muốn có cái địa vị ngang hàng với nam giới thì (chẳng những) việc tề gia nội trợ phải thuộc lòng tình thế trong ngoài cũng nên ghé mắt tuy chưa được như người Âu Mỹ song cũng đừng phụ tiếng Lạc Hồng" (1)

Tư tưởng so với đương thời thật tiến bộ văn chương mạnh mẽ như những lời kêu gọi của Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Duy Tân lúc ấy.

Cũng trên tờ Nữ giới chung này còn có những bài thơ đề cao tinh thần quật khởi của các nữ anh hùng dân tộc như bà Trưng bà Triệu hoặc đăng những bài thơ đề cao nữ quyền trong đó có những câu nói rõ tiêu chí của tờ báo:

Vang lừng nữ giới những hồi chuông

Thúc bạn quần thoa thoát cửa buồng...

(Số 8 ra ngày 22-3-1918)

Nữ giới chung là tờ tuần báo ra vào ngày thứ sáu số đầu tiên xuất hiện vào 1-2-1918...

Cũng trên báo này còn đăng những bài thơ khuyên thanh niên Việt Nam không nên đi lính cho Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 trong đó có bài Chinh Phụ thi của Sương Nguyệt Ánh:

Đình thảo thành hào liễu hữu ty

Chinh phu hà nhật thị quy kỳ

Bán liêm tàn nguyệt thương tâm dạ

Nhất chẩm đề quyên lạc lệ thi

Tái bắc vân trường cô nhạn ảnh

Giang nam xuân lạc lạo nga my

Tái lai cử đệ tương tư mộng

Tằng đáo quân biên tri bất tri?

Thơ Chinh Phụ 

Cỏ rạp sân thềm liễu rủ tơ

Chàng đi bao thuở lại quê nhà?

Nửa đêm trăng xế lòng ngao ngán

Chiếc gối quyên gào lụy nhỏ sa.

Ải Bắc mây giăng che bóng nhạn

Vườn Xuân nắng tắt rẻ mày nga

Nhớ nhau mấy lúc chiêm bao thấy

Ngàn dặm lang quân biết chẳng là?

Thơ nhuần nhị kín đáo mà lời vận động phản chiến khá rõ khá tình cảm...

Tuy chỉ hoạt động vỏn vẹn gần một năm mà tờ Nữ giới chung của chủ bút Sương Nguyệt Ánh đã gây được ấn tượng mạnh trong làng báo Việt Nam đầu thế kỷ XX.

      Mùa xuân năm Canh Tý - 1901 bà Sương Nguyệt Ánh lên thăm viếng núi Bà Đen thấy bên Điện thờ Linh sơn thánh mẫu có cây mai trắng nở  bên Đền rất đẹp nữ sĩ đã cảm tác viết bài thơ này.

           VỊNH HOA MAI TRẮNG

          Non linh đất phước trổ hoa thần

Riêng chiếm vườn hồng một cánh xuân

Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng

Sương sa bóng nguỵệt ánh màu ngân

Mây lành gió tạnh nương hơi chánh

Vóc ngọc mình băng bặt khói trần

Sắc nước hương trời nên cảm mến.

Non linh đất phước trổ hoa thần.

Bài thơ không chỉ nói lên cảnh sắc mùa xuân tươi đẹp trên núi Bà một vùng đất linh thiêng đầy huyền thoại của Tây Ninh mà còn mượn cây mai trắng trên núi để nói lên khí tiết người nữ sĩ góa bụa trước mọi cám dỗ của đời thường. Nếu ai tinh ý sẽ thấy bà mượn thơ để nói tới bản thân trong câu thứ 4. "Sương sa bóng nguyệt ánh màu ngân".

Năm đó Sương Nguyệt Ánh mới 37 tuổi tuy góa chồng đã lâu nhưng bà còn rất xinh đẹp. Thời gian thấm thoắt thoi đưa mới đó mà đã 110 năm nữ sĩ lên núi đề thơ. Mùa xuân lại về xin có đôi lời nhắc lại một kỷ niệm đẹp của Sương Nguyệt Ánh trên quê hương Tây Ninh anh dũng kiên cường.

                                                    Xuân - 2010

                                                           

 


 

Hiện nay lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh đã lấy tên bà đặt tên cho một phố nội thành.