TIẾNG BÌM BỊP KÊU LÚC NƯỚC RÒNG

TIẾNG BÌM BỊP KÊU LÚC NƯỚC RÒNG

Truyện ngắn: Phùng Phương Quý

    Bíp…bíp…bíp…bíp…bíp! Khắc khỏai tiếng bìm bịp vẳng ra từ rạch Ông Sáu. Gió đã đổi chiều thổi thốc ra phía cửa vàm. Út Cua chặt hai cành dừa nước cắm ngược sau đuôi xuồng làm buồm khoát nhẹ mái dầm giữ lái. Nước bắt đầu ròng xiết con xuồng được gió trợ sức lao vun vút. Lòng xuồng xếp chồng chất mấy vó cua tám con cua gạch con nào con nấy nặng cả ký bị trói cẳng nằm chỏng chơ. Nôn quá! Còn mấy mồi câu nữa chưa dỡ nước ròng xiết không chừng lật ngang cua bò mất tiêu. Nỗi lo lắng bồn chồn làm Út Cua không kịp bẻ lái để chiếc xuồng lao vô đám cành bần nằm ngang. Từ mặt nước tới cành bần cách chừng một mét tổ ong dải áo nằm thõng thượt. Nước muốn kéo chiếc xuồng đi nhưng hai cành dừa nước cắm ngược đã níu nó lại. Đang lùng nhùng trong đám cành lá thì Út Cua nghe nhoi nhói buốt trên đầu trên cổ. Lũ ong chơi mình rồi.

 

Ráng nhịn đau anh nhảy ùm xuống nước hai tay níu chặt be xuồng. Nước xoáy tròn cuộn chiếc xuồng úp sấp cành dừa nước bị gãy để xuồng trôi tuốt qua đám bần lóc nhóc trái non trái già. Vừa bị sặc nước Út Cua vừa chửi ngầm:

- Đù tía con cóc! Hà bá ăn hết mớ cua của tao rồi.

Bà Hai Sài Gòn kêu the thé khi thấy cậu em trai lóp ngóp lôi xuồng từ dưới rạch lên trước nhà. Chiếc xuồng ba lá mỏng manh run rảy trong mớ bùn đất trơ trọi không còn cả cột dầm.

- Đồ đàn ông vô dụng! Bốn mươi tuổi rồi chớ non nớt sao? Người gì mà chèo xuồng cũng hổng nên. Bởi vậy có con nào nó dám lấy cậu mới lạ.

    Út Cua bặm miệng nhịn. Con vợ anh bỏ đi từ năm còn ở Sài Gòn vì anh oèo oặt không làm nó thỏa mãn được chuyện chăn gối một phần phần vì nó ngán bà chị chồng “chằn ăn trăn cuốn” suốt ngày la lối chửi móc họng người ta. Bộ hổng thấy tôi mặt mũi sưng ú vì ong chích hả? Đi theo bà từ năm giải phóng tới giờ bộ sung sướng lắm sao? Từ chàng trai phố phường có tên tuổi đàng hoàng là Phan Võ Hiệp nay người ta kêu tôi là Út Cua. Cái nghề câu cua nầy tôi đâu có chọn mà chị chọn giùm đó chớ. Tự dưng lôi thằng em chạy từ thành phố xuống tuốt vùng cửa biển nầy. Bả nói sợ bị trả thù. Ai mà thèm “ân oán giang hồ” với đồ đàn bà cong queo như con khô sặt. Mẹ bà nó! Nhức quá trời. Đụng tụi ong dải áo này coi như đụng tụi “thủy quân lục chiến”.

    - Trời ơi! Sao mặt mũi sưng như mặt ông địa vậy? Bà Hai lại cất giọng the thé.

Út Cua nóng no trong bụng không thèm trả lời. Anh ngồi phịch xuống dưới gốc dừa hả hê nhìn bà chị quýnh quáng chạy quanh nhà kiếm cây môn nước chà cho em. Bàn tay gầy ốm nhăn nheo thoa nhẹ lên từng vết ong chích miệng bà Hai rên rỉ.

     - Cậu làm cái giống gì cũng làm ơn coi chừng giùm tôi chớ. Họ Phan nhà này còn có mình cậu thôi đó.

     Vụ này Út Cua dư biết mà. Bởi vậy nên anh mới bị kéo chui kéo nhủi chạy như chuột từ mấy chục năm nay. Ở Sài Gòn thì bả sợ em trai bị bắt quân dịch. Hai chị em ôm tiền vàng chạy xuống vùng Bảy Núi mở quán cà phê. Tới hồi giải phóng miền Nam tìm về nhà cũ chưa được một năm bà Hai kéo em chạy nữa. Lần này thì chạy tuốt xuống vùng cù lao Rồng. Hỏi sợ gì nữa mà chạy bả nói:

     - Tướng tá cậu lấy bấy như hình nhân giấy họ bắt đi thanh niên xung phong làm sao. Toàn đi đào kinh gỡ mìn thôi lỡ chết bất tử… Tánh bà Hai dữ dằn nhưng thương em trai như con. Chuyện quan trọng nhứt bà lo lắng là làm sao cưới vợ cho em. Cho họ Phan có người thừa kế. Chịu sống cơ cực như người dân bản xứ không điện nước không ti-vi không coi hát cải lương. Đêm về leo lét dưới ánh đèn dầu hôi hai chị em chúi vô chiếc radio casset cổ chán cải lương lại nghe thời sự. Căn nhà rộng lợp tôn thiếc của bà Hai nằm chơ vơ một mình bên bờ rạch không gần ai. Đi lên phía Bắc chừng hai cây số là gặp đội cải tạo lao động thanh niên của Tư Rỗ. Đi dọc hướng Nam chừng cây số mới gặp lác đác mấy chòm nhà mới cất của dân Long Phú ra phát rừng đào mương rửa phèn trồng lúa. Bà Hai chưa bao giờ bước chân qua bên kia con rạch hoặc ra khỏi công đất vườn trồng dừa. Bà sống ẩn dật như một tu sĩ mọi đồ ăn thức uống vật dụng trong nhà một tay Út Cua chèo xuồng ra ấp Ngang mua sắm.

    - Cậu có qươ được con nhỏ nào chưa? Mỗi lần Út Cua đi lâu lâu hai ba bữa mới về bà Hai đều hỏi như vậy.

    Cậu em lắc đầu hai ba cái liền. Gái miệt vườn tuy không đựơc sáng sủa như gái thành phố nhưng cô nào cũng mơn mởn tươi giòn thiệt thà siêng năng. Không phải Út Cua kém cạnh chi. Tướng người cao ráo cặp mắt sâu chân mày rậm cái miệng tươi cười. Tuy anh tuổi đã cao nhưng cũng có vài cô lỡ lứa hay bà góa trẻ nhìn đến thậm chí có người còn đánh tiếng gạ gẫm. Út Cua trong bụng muốn lắm. Nhìn nhiều lúc anh muốn quăng tất cả đi lao tới ôm lấy mấy cô hơ hớ trong nét cong áo bà ba gợi cảm. Nhưng rồi mặc cảm mình hết xí quách cứ loay hoay lồm cồm bên tấm thân trắng ngộn căng lên mời mọc của vợ mà không làm được gì có lần còn bị một đạp bắn xuống chân giường thì ớn quá nhục quá không dám mon men tới chốn ấy.

     Lựa mấy khúc tầm vông trên gác bếp xuống Út cua lụi cụi chẻ vót làm mớ vó cua mới. Dân cù lao thường dùng leng và cù nèo đi móc cua trong hang. Út Cua không làm được như vậy. Anh làm vó cua rồi đi đặt câu. Cách làm vó cũng đơn giản chẻ hai thanh tầm vông cỡ ngón tay vót cho hai đầu nhỏ dần rồi cột lại hình chữ thập mỗi thanh dài nửa mét. Tấm lưới phía dưới cỡ mắt 5-6 sợi tơ se to cỡ cây tăm cho càng cua khỏi kẹp đứt. Cột bốn góc lưới vô bốn đầu thanh nẹp như kiểu vó cất cá cột bên dưới một cục gạch đủ nặng kéo vó xuống đáy rạch bên trên cuốn sợi thép dài hai mươi phân đầu có móc để găm mồi thường là thân rắn hoặc lệch chặt ngắn. Một sợi lòi tói dài chừng hai mét cột vó với ống bương rỗng làm phao. Vậy là có một vó cua ngon lành. Bọn cua ngửi thấy mùi tanh mò tới ăn tám cái chân mắc vô lưới coi như tiêu sanh mạng hết đường về hang. Anh Út có mấy chục vó cua như vậy. Mỗi khi chuẩn bị đi thả câu phải chèo xuồng dọc kênh rạch một lượt lúc nước ròng sát thấy nơi nào nhiều bong bóng cua nổi lên mặt nước chờ lúc nước lớn lại sẽ thả vó câu. Cứ cách chục thước thả một vó mỗi chỗ thả chừng năm bảy vó còn lại thả chỗ khác. Canh chừng lúc nước đứng chuẩn bị ròng là phải đi nhấc câu. Để nước ròng xiết quá vó sẽ bị trôi hoặc lật cua sổng hết. Mười sáu năm làm nghề câu cua đem bỏ mối cho chợ bến Cá Út Cua được mọi người đặt tên cho nghĩa là cái nghề đã vận vào cuộc đời nhiều kinh nghiệm lắm rồi. Vậy mà bữa nay vô duyên gặp tổ ong trên cành bần làm công sức từ mờ sáng tới chiều đổ xuống sông. Mất vó thì làm lại mấy hồi nhưng cái hẹn với Tư Rỗ chiều nay thiệt khó. Hổng lẽ nói với chả mình gặp xui xẻo nó có tin? Bực bội trong lòng Út Cua chém cây rựa vô khúc gỗ kê miệng buột câu chửi thề. Bà Hai ngừng tay lặt tép hỏi em:

   - Vụ gì nữa đây?

   - Hứa cho Tư Rỗ mớ cua giờ kiếm đâu ra…

   Bà Hai buông tay nhao tới chỗ em trai miệng cười ha há.

    -Cậu chịu nghe tui rồi phải hông? Tới đi! Bên cha Tư Rỗ biết bao nhiêu con gái đẹp. Người ta nói “lấy đĩ về làm vợ” mà. Vậy tính con nào rồi? - Có con Vân Nhí người mập mạp dễ thương cũng con nhà quê lỡ theo bạn bè rủ đi quậy phá ít bữa thì bị gom vô đây.

   - Nó nhiêu tuổi?

   - Hai mốt!

   - Trẻ quá…mà cũng được. Nó trẻ vậy còn sống lâu mà chăm sóc cậu mai mốt tôi đi sớm đỡ bận lòng.

   - Chiều nay hứa mang cho chả mớ cua. Giờ biết tính sao?

    Bà Hai hua hai tay trên đầu như lên đồng. Thằng khờ! Có vậy mà quạu hả. Tao cho con gà kìa mang thế vô mớ cua được rồi. Hẹn nó mai mốt gì tính tiếp đi. Con gà nòi cổ đỏ au bắp đùi lực lưỡng đang cục cục bươi đất dụ con gà mái nhỏ thấy bà Hai giơ nắm gạo trên tay gọi chúc chúc thì lịch bịch chạy tới. Cái mỏ chưa kịp đụng nắm gạo đã bị bàn tay còm nhom túm cổ rồi hai chân bị trói nghiến. Nó mở to đôi mắt đen viền vàng ngạc nhiên nhìn bà chủ cái miệng vẫn cục cục gọi con mái. Để chắc ăn bà Hai bỏ con gà vô cần xé rồi hối Út Cua bơi xuồng đi cho kịp chút nữa nước lớn lại chèo ngược nước cực lắm.

    Tư Rỗ ngồi chầu chực ở quán cà phê sát bến sông từ lâu. Hai cậu bảo vệ và chị Mười Thúy y tá của đội cũng ở đó chuẩn bị rau rác củi lửa sẵn. Lúc nào có mồi là mần ngay cho kịp nhậu. Tư Rỗ búng búng đầu mẩu thuốc lá sốt ruột.

    - Cái thằng …! Mọi bữa giấc này nó chèo xuồng qua đây rồi. Hà bá ăn mầy rồi hả Út Cua!

    Chị Mười chép miệng:

    - Tội nghiệp! Cậu Út tánh tình cũng dễ chịu. Lỡ bà chị “quái chiêu kỳ đà” hổng cho làm sao.

    - Bộ tui thèm mấy con cua của thằng Út hả? Muốn có em dâu mà hổng chịu mãi lộ thằng nầy sao?

Tư Râu xoa cái cằm lởm chởm râu lâu ngày chưa cạo buồn thiu: -

   -Mình cũng vì nhiệm vụ với cách mạng chớ bộ tui ham quyền chức lắm sao? Cũng dân kháng chiến như mình tụi nó ăn trắng mặc trơn trên thị xã. Một bước đi đâu là xe máy xe đò. Mình lội sình tối ngày còn phải trông nom mấy con nhỏ “dịch vật” kia nữa. Hồi hôm tui nghe tiếng mấy đứa khóc lóc chi đó. Chị có kiểm tra hông?

   Chị Mười lại chép miệng:

    - Tội nghiệp mấy đứa bị bịnh lậu đau quá nên khóc đó. Tui biểu ráng chịu tới thứ hai này có ghe ra thị xã trung tâm gởi thuốc trụ sinh liều cao vô rồi chích hết liền. Phải dùng Lanh- cô thôi cậu Tư thuốc Pi-ni nhờn liều với mấy đứa rồi.

   - Ờ! Thì chị coi giùm đi. Tui cũng nôn lắm chỉ mong trung tâm sớm chuyển đội về thị xã ở đây mấy năm rồi cực thấy bà cố. Muỗi như trấu đêm nào tui cũng “hiến máu nhân đạo” hết trơn.

Cậu bảo vệ ngồi ngoài sân bỗng ngoắc tay la lớn:

    - Ê! Anh Út! Ghé đây nè! Làm tụi nầy chờ muốn khùng luôn. Trời đất mang cả cần xé cua tới. Tính nhậu tới ba ngày hả?

Út Cua khệ nệ nhấc cần xé lên cười khè:

    - Anh Tư cảm phiền nghe! Bữa nay xui quá cả người lẫn cua lật xuống nước. Có con gà nòi nó phá vườn rau dữ quá tui mang tới nhờ anh em xử giùm. Vụ cua cá để mai mốt tính hén. Tư Rỗ vụt mẩu thuốc xuống sông hớn hở: - Chờ muốn gẫy cần cổ rồi ông nội. Giờ có thịt người tao cũng nhậu được nữa là gà nòi. Đem xử thằng nầy rồi nấu cháo đi mấy đứa!

    Rượu vô sần sần Tư Rỗ nheo mắt hỏi:

    - Vậy là chịu nhỏ Vân nhí nghen! Con đó hay nhất đội đó. Biểu chị Hai coi ngày rồi qua nói với cơ quan một tiếng đặng ký giấy bảo lãnh cho con nhỏ rồi đưa nó về bển. Có làm đám tiệc gì thì tùy chú Út mầy. -

    -Dạ! Cám ơn anh Tư để rồi em tính. Có điều chị Hai em bả ngại ra khỏi nhà quá.

Út Cua mừng tưng tưng trong bụng. Rồi lại lo thắt ruột vì lỡ bà chị hổng chịu qua ký giấy bảo lãnh. Chị Mười nghĩ sao rồi lại chép miệng.

   - Chị Hai cậu Út cũng kỳ thiệt. Tôi theo đội về đây gần bốn năm rồi mà đâu có thấy mặt bả hồi nào đâu. Xứ nầy chỉ nhiều muỗi với rắn có hàng xóm mừng muốn chết mà sao làm biếng tới lui ha?

   Tư Rỗ nhai ống xương gà rau ráu hất mặt về phía rạch:

   - Chị Hai cậu cũng dân Sài gòn hả? Sao lại về đây? -

   - Dân Bình Chánh đó anh Tư. Hồi còn ở trển nhà có tiệm tân dược cũng đỡ rồi hổng biết sao bả dắt tui chạy xuống Bảy Núi bán cà phê. Giải phóng xong lại chạy tuốt về đây.

   - Ủa! Hổng lẽ là bà Hai cầu Dừa?!

    - Dà! Hồi trển người ta kêu chị Hai tui vậy đó.

    - Vậy ngày mai tao qua thăm coi đúng bả hông? Trời đất! Năm đó cơ quan cử người mang vô nội thành một kí vàng giao cho bà Hai cây Dừa lập tiệm tân dược lấy tiền nuôi anh em cơ sở. Nghe nói cả vàng lẫn người mất tiêu luôn. Nếu phải chị Hai cây Dừa còn thì phải làm tiệc ăn mừng đó.

    - Anh Tư có biết chị Hai tui hả?

    - Cũng chưa biết mặt chỉ nghe chuyện mất vàng của cơ quan hồi đó rồi biết tiếng bả thôi mà. Vậy là bà nầy mạng lớn rồi. Giờ tao lo cho cô em dâu nữa phải làm tiệc khao chớ sao.

    Chập choạng Út Cua mới chèo xuồng về tới nhà. Bước vô hè đã bô lô ba la giọng say sỉn kể lại chuyện của Tư Rỗ.

    - Ngày mai ổng qua thăm chị đó. Nếu phải người quen cũ thì hên cho tui qua trời.

    Nghe tới vụ một kí vàng bà Hai xém nữa xỉu. Thoắt cái bà như người bị tẩu hỏa nhập ma chạy vô nhà chui xuống bếp ôm thứ nầy bỏ thứ kia. Cuối cùng chỉ còn lại chiếc hòm thiếc chứa quần áo được bà ném vô lòng xuồng. Bà khoát tay biểu em trai chèo xuồng đưa mình ra cửa vàm tức thì. Út Cua khạc nhổ phì phì.

   - Tui sỉn muốn chết. Giờ còn kêu đi đâu nữa?

   - Trời ơi! Tui biểu cậu đi liền mà. Đi gấp giùm được hông?

   Từ trong mé rừng bỗng vang lên mấy tiếng bìm bịp bíp bíp bíp. Nước lại ròng rồi. Bà Hai như có lửa đốt trong lòng lôi cậu em xuống xuồng. Phải đi ngay. Đang lúc nước ròng đi càng lẹ. Bà chụp mái chèo khua nước đằng trước gắng gỏi còng tấm lưng ốm lòi xương. Út Cua lè nhè:

    - Giờ này đi đâu chị Hai? Để tui đốt cây đèn lên đã.

   - Khỏi đèn nến chi hết. Lẹ lên!

    Út Cua vừa ngáp vừa khoát mạnh mái chèo. Ừ thì đi! Mấy chục năm qua chị kéo tui hết lên rừng lại xuống biển mà. Giờ có nước tới địa ngục chớ đi đâu. Bà Hai im lặng. Bặm miệng khoát mái dầm. Chuyện năm xưa lỡ nổi lòng tham mà phản bội tổ chức bả đâu có sợ. Có đem xử bắn bà thì cái thân già nầy cũng toại nguyện. Nhưng còn cậu em còn nỗi lo tồn vong của dòng họ Phan nhà bà thì không san sẻ cho ai khác ngoài bà. Bà phải lo cho cậu em một người vợ. Phải được nhìn thấy người nối dõi họ Phan ra đời rồi sẽ buông tay chịu trói. Nhưng đó là chuyện sau này còn bây giờ bà lại muốn trốn chạy. Có người nhận ra bà rồi ở quanh đây đâu có được nữa. Đi đâu? Cốt là nhanh chóng đi khỏi chốn này. Dù là tới địa ngục như thằng Út vừa nói. T

phuongquy

gửi ongtredao

Cháu sẽ về dự đại hội. Có thằng nào nó vừa commen đểu đấy. Chúc ongtre và anh em ngoài đó mạnh khỏe

ongtredao

Truyện hay! Trăm phần trăm chất Nam Bộ. Xin bái phục!

Ở Phú Thọ sắp đại hội rồi thế nào bố thằng cu có về dự không? Để mà còn bàu BCH mới.