NGẪU HỨNG KÀ THA LÂU

By

                NGẪU HỨNG  KÀ- THA- LÂU

alt

Không biết anh làm thơ từ bao giờ!? Nhưng mới đây xuất hiện trên Tạp chí Văn nghệ Tây Ninh và báo Tây Ninh những bài thơ khi dí dỏm lúc thì khúc triết lý sự… với bút danh ngồ ngộ: Kà- Tha –Lâu (KTL). Đọc thơ anh thấy một sự ngẫu hứng toát ra từ tâm hồn nhạy cảm chứ không trau chuốt dụng công từ ngữ. Sau này có dịp quen biết anh mới thấy đúng như vậy. Họ tên khai sinh đầy đủ của KTL là Đoàn Đại Nghĩa một cựu chiến binh một giáo viên quê Hà Tĩnh hiện đang sinh sống tại Thị trấn Tân Châu huyện Tân Châu. Thảo nào nghe giọng thơ anh có cái hóm hỉnh ngạo ngược của một ông đồ nho Nghệ - Tĩnh. Còn cái bút danh lạ tai kia ban đầu tưởng là Cà Thà Lầu món củ cải muối đen sì của mấy ông Ba Tàu. Sau này anh giải thích đó là câu nói lái theo kiểu Nam Bộ là Cầu Tha La một địa danh lịch sử của Tân Châu - Tây Ninh.

Ngoại lục tuần là đã bước qua cuối dốc bên kia cuộc đời đã kịp chiêm nghiệm đủ những gì cần cho một đời người. Đang mải mê với những đam mê chợt một chiều anh Bâng khuâng

Hôm nào

Lá hãy còn xanh

Mà nay

Lá sắp lìa cành…lá ơi.

Câu thơ nghe xót xa hụt hẫng để thấy kẻ sĩ đã ngộ được kiếp nhân sinh. Tuy vậy bản tính hay triết lý của mấy ông đồ Nghệ - Tĩnh bật lên câu tuyên ngôn đầy ngạo nghễ:

Tử sinh- là luật của đời

Lá vàng rụng

Để đẩy chồi lộc non.

Thời trẻ tuổi tôi có tật xấu là hay “khoe chữ”. Biết một vài Hán tự dăm câu Pháp ngữ hễ có dịp giữa đám đông hay trong bài viết nào đó là “khoe” thôi thì từ Xa hạt trong Kinh Thi đến thơ Đường của Lý Bạch từ thơ Ta- go Ấn độ đến các bài thơ Nôm của Nguyễn Du. Cái tật “thùng rỗng kêu to” tuy bỏ đã lâu vậy mà đọc mấy câu thơ của KTL tôi vẫn đỏ mặt hổ thẹn.

Ai sinh đôi sinh ba cũng biết

Ai chết đâu cũng hay

Toàn nghe nói!

(Vô Đề 1)

Căn bệnh này rất phổ biến trong nhân gian lại càng phổ biến trong giới cầm bút thơ thẩn như chúng tôi hôm nay. Nói vậy để thêm cảm phục một con người trí thức nhưng khiêm tốn như KTL Anh chưa bao giờ chú trọng với con chữ để tạo cho mình cái “danh hão” chỉ ngẫu hứng thôi thơ chợt đến chợt đi như cuộc sống giản dị của tác giả.

Mất điện!

Trải chiếu  ngoài thềm

Ngủ thiếp

Dưới ánh sao đêm- một mình

Tưởng là một mình!? Nhưng tâm hồn mơ mộng của thi sĩ lại tưởng tượng ra một cảnh thật tuyệt vời:

Nửa đêm tỉnh giấc

Giật mình tưởng ai…

Trăng non

Đang nằm kề vai

Nhìn tôi bẽn lẽn

“rạng mai; trăng về”.

(Ngẫu hứng)

Một sự ngẫu hứng đầy thi vị và đa tình khéo chỉ có trong giấc mơ của Từ Thức.

Tiếp xúc với KTL chưa nhiều nhưng qua phong cách của anh qua những tác phẩm thơ anh đang viết tôi thầm mến phục. Tưởng qua vẻ ngoài phong sương bụi bặm qua giọng nói bất cần cầu cạnh ai là bên trong một tâm hồn nhạy cảm biết liêm sỉ biết tri âm tri kỷ bạn bè.

Bầy dế ngồi vuốt râu tán chuyện đời

Chợt nghe bước chân người tới

Im!

Thơ văn có thể là nghiệp chướng có thể là cuộc chơi ngẫu hứng của mỗi người. Và trong cuộc chơi này KTL đã biết mình là ai để thơ anh đọng lại chút gì đó trong lòng bạn đọc.

                                                                                     

 

 

 tác giả thơ Kà Tha Lâu

 

 

 

 

More...

CÁC CỤ XƯA CŨNG MÁU LỬA GHÊ

By

 

        CÁC CỤ XƯA CŨNG MÁU LỬA GHÊ

Những người lớn tuổi thường phàn nàn lớp trẻ bây giờ yêu dữ quá dễ dãi quá chẳng cần chú ý tới hậu quả của việc "cho và nhận" trước hôn nhân. Nhưng có lẽ các cụ nhà ta không công bằng. Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du cái thời phong kiến "nam nữ thụ thụ bất thân" mà Thúy Kiều dám "Băng băng đè nẻo lam kiều lần sang"...tìm Kim Trọng cũng là gan cùng mình rồi. Tôi hay nghe bà ngoại của bé mỗi lần ru cháu thường hát.

"Chuột kêu rúc rích trong rương

Anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay

Mẹ hay mẹ hỏi đi đâu

Con đi hốt muối cho mèo nó ăn".

Hỏi cụ tại sao lại "đi hốt muối cho mèo nó ăn"? Cụ chỉ cười xòa. "Ậy! Câu hát nó từ xưa vậy mà. Ai biết!". Có lẽ các cụ giả lơ vậy chớ làm gì mà không biết hoàn cảnh khó xử của chàng trai tới chơi nhà người yêu rồi được phép ngủ lại qua đêm hoặc là anh con trai đang trong thời kỳ "gởi rể" còn bị "cấm vận" hoặc là một chàng lực điền đang ở mướn cho chủ lại được con gái chủ đem lòng thương... Đại để có rất nhiều lý do đem tới hoàn cảnh đó trong thời khắc nửa đêm: "Chuột kêu rúc rich trong rương? Anh đi cho khéo kẻo đụng giường mẹ hay". Rõ ràng chuyện hẹn hò này đã có chủ ý từ trước ít nhất là trong ngày. Cô gái hẹn chàng trai "tối vô với em nghen". Lúc đó nửa đêm về khuya chắc chắn mẹ đã ngủ say. Mặc dù vậy cũng nên đi đứng cho cẩn thận vì giường mẹ cũng gần đó. Lần mò đi trong bóng đêm giữa căn nhà chật hẹp quả là khó khăn nhưng không gì bằng tiếng gọi tình yêu chàng trai đã vừa run vừa mò mẫm trong đêm về hướng buồng người con gái.

Theo hai câu kết của bài hát ru này thì chàng trai xui xẻo quá. Chắc vừa đi vừa run nên loạng quạng đụng chỗ nào đó nên bà mẹ nghe được mà tai mấy bà có con gái mới lớn thì thính dữ lắm. Tôi đoan chắc chàng trai bị quê một cục. Bà mẹ cũng không muốn làm con gái mình mất mặt nên chỉ hỏi "đêm hôm con đi đâu?". Và trong lúc vô cùng bối rối hoảng sợ chàng trai nói bừa rằng "con đi hốt muối cho mèo nó ăn". Mèo nào mà lại ăn muối?! Tại quýnh quá trả lời đại cho rồi. Cuộc hò hẹn đêm ấy hoàn toàn thất bại nhưng chắc họ sẽ tìm những cơ hội khác. Chỉ có bà mẹ là đúc kết thành hai câu lục bát để dành ru con và cũng để "dạy" cho mấy đấng nam nhi rút kinh nghiệm trong việc hẹn hò giữa đêm. Vậy mới hay ngày xưa các cụ ta cũng liều lĩnh và máu lửa lắm chớ bộ.

                                                                          

More...

HOÀNG TRỌNG MUÔN- THIẾU KIẾN VĂN HAY SỰ LỘNG NGÔN?!

By

HOÀNG TRỌNG MUÔN -

THIẾU KIẾN VĂN HAY SỰ LỘNG NGÔN!?

(Nhân đọc cuốn Tiểu luận- Phê bình: Thử bàn về văn học Hà Nam đương đại của Hoàng Trọng Muôn- NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2010)


     Tôi có được cuốn sách của Hoàng Trọng Muôn thật tình cờ do anh gửi tặng một cô bạn ở Hội văn học nghệ thuật Tây Ninh. Thấy là sách Tiểu luận- Phê bình thì tôi mê ngay và mượn đọc. Đã từng đọc tác phẩm của các tác giả Hà Nam như Lương Hiền; Đoàn Ngọc Hà; Hoàng Giang Phú và nhất là Đỗ Thị Thu Hiền đồng môn Khóa 1 Lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du năm 2007 nên tôi càng háo hức xem cây bút trẻ Hoàng Trọng Muôn nói gì về "văn học đương đại" trên quê hương của nhà thơ Nguyễn Khuyến.

More...

CHUYỆN CUỐI TUẦN- CẢ LÀNG NÓI KHOÁC

By

 

Đi chơi xem ngày lấy may 

Cụ nhà em trước lúc đi xa đã để lại một quyển sách và dặn dò cặn kẽ:

Đi đâu các con phải mở sách xem ngày lấy may.

Y lời dặn nhân một chuyến đi rừng nhà em chọn ngày đại cát cầu may và thế là hôm về nhà em thao thao kể:

Hôm đi rừng tôi đem cái bẫy gà qua bìa rừng gài bẫy lúc về thì ba gà mắc bẫy. Thấy gà cáo đến bắt cáo và gà cùng sa bẫy. Được gà lại được cả cáo. Đang lúc bí vì chẳng có cái để tôi đành đi kiếm một đoạn dây rừng để buộc thì gặp một dây thiếu mật. Kéo dây thiếu mật thì được ngay một tổ khoái rừng to hơn cái đõ đồ xôi cỡ đại.

Của sơn hào bắt được hôm ấy khiêm tốn mà nói cũng được một gánh nặng.

  Cụ NGUYỄN VĂN HÀM kể


More...

CHUYỆN CUỐI TUẦN- CẢ LÀNG NÓI KHOÁC

By

 

                             Chó còn mừng nữa là tao! 

       
      Một anh chàng lười biếng giả cách ốm mệt nằm nhà. Nhưng chị vợ vừa đi làm anh ta đã vùng dậy rang ngô chén. Ngô vừa chín tới đã thấy tiếng vợ nheo nhéo gọi cổng thì ra vì vội chị vợ bỏ quên cái nón nên quay về lấy. Bí quá anh chồng đổ tất ngô đang nóng vào túi quần. Bỏng quá anh chàng vừa chạy ra mở cổng vừa nhảy tâng tâng. Chị vợ thấy lạ bèn hỏi: "Phải gió hay sao mà cứ nhảy cẫng lên thế"?. Anh chàng nhăn nhó cười: "Hay chửa thấy mẹ mày về chó còn mừng nữa là tao"!.


More...

CHUYỆN CUỐI TUẦN- CẢ LÀNG NÓI KHOÁC

By

 

"Văn Lang cả làng nói khoác"


    "Đến Văn Lang nghe người dân trong làng nói gì cũng chớ vội cả tin không khéo người ta nói khoác để trêu mình đấy. Làng này từ người già đến trẻ con ai cũng có tài nói khoác". Một anh bạn "thổ địa" nói như vậy khi dẫn chúng tôi về làng Văn Lang thuộc xã Văn Lương huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ nơi đã truyền tụng từ xa xưa câu "Văn Lang cả làng nói khoác". Đó là một làng quê cổ kính với những đồi khoai nương sắn và những cánh rừng cọ thơ mộng có lịch sử hình thành đã mấy ngàn năm gắn liền với những truyền thuyết từ thời vua Hùng dựng nước.

Chúng tôi ghé vào quán nước đầu làng gọi cốc trà nóng chị chủ quán đon đã mời luôn: "Em mời các bác dùng khoai dẻo của quán em đi ạ. Không ở đâu khoai dẻo bằng làng em". "Khoai của nhà chị dẻo thế nào mà quảng cáo ghê vậy?". "Dẻo lắm ạ. Hôm rồi mẹ chồng em ở làng bên sang chơi; chúng em luộc nồi khoai mời mẹ ăn. Cụ ăn xong cứ ngơ ngẩn miệng mím chặt. Em cứ tưởng bà cụ nghẹn chạy đến vuốt ngực nhưng bà cứ lắc lắc đầu không nói được. Chồng em phải cạy miệng bà cụ ra thì cụ mới nuốt đánh ực được. Nhìn lại thấy cụ chẳng còn cái răng nào. Thì ra củ khoai dẻo quá dính chặt miệng bà cụ đến khi cạy miệng mấy cái răng dính theo khoai trôi cả vào bụng...".

Tôi đang định nếm thử củ khoai dẻo ấy thì một cô gái trẻ đi bộ rẽ vào quán khóc thút thít: "Đêm qua em bị bố chồng mắng oan. Tất cả cũng vì con chó Dạng nuôi trong nhà". "Sao thế? Kể cho chị nghe xem nào"- chị chủ quán lo lắng. "Đêm qua con chó Dạng gặm một khúc xương chui vào gầm giường nhai rau ráu. Chồng em không ngủ được thét đuổi chó: Dạng ra... Dạng ra. Bố chồng em nằm ở buồng ngoài vùng dậy quát lớn: "Úi giời bọn mày cứ tú tí như chốn không người ấy khe khẽ chứ...". Cả quán nước cười lăn ra...

Ông Hán Mạnh Hiểu đội phó "Đội văn nghệ và nói khoác" của làng cho biết: "Cách nói chuyện tếu táo đã thấm vào máu thịt của dân trong làng người nơi khác đến nghe người Văn Lang nói chuyện là cứ ngẩn ra".

Cụ Hán Văn Sinh một trong những bậc thầy của làng nói khoác Văn Lang bảo do đây là vùng trung du xa xôi cách trở nên từ xa xưa nụ cười tinh thần lạc quan đã là "công cụ" hỗ trợ giúp con người chống chọi lại những khắc nghiệt của thiên nhiên các loài thú dữ giặc ngoại xâm. Những câu chuyện nói khoác còn có tác dụng khuyên nhủ nhắc nhở nhau từ bỏ những thói tật xấu. Nghệ thuật nói khoác của Văn Lang là ở chỗ biết quan sát dựng truyện biến những cái tưởng như bình thường thành những truyện cười.

Người làng Văn Lang còn thành lập hẳn một "đội nói khoác" đi lưu diễn khắp trong và ngoài tỉnh; và hàng tháng hàng quý làng thường tổ chức các hội diễn hội thi nói khoác để dân làng thi thố tài nghệ với nhau từ đó chọn ra những "trạng nguyên nói khoác". Đặc biệt vào dịp tháng giêng âm lịch hàng năm làng mở hội thi để chọn "Đệ nhất nói khoác Văn Lang".

Đang nói chuyện với chúng tôi có bà hàng xóm sang nhà mượn con dao cắt rau muống anh Hiểu bảo ngay: "Em chả tiếc gì với bác đâu nhưng bác dùng thì phải cẩn thận: con dao nhà em cứ là sắc hơn nước đấy. Hôm qua nhà em dùng dao thái thịt lợn quên không rửa gác trên giàn. Con chó mực vươn cổ lên liếm thế là đứt cả lưỡi mẩu lưỡi vẫn còn nguyên đây". "Thế con chó đâu rồi?"- bà hàng xóm hỏi. "Thì thịt đãi khách luôn chứ sao nữa"...

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở VN có 16 làng cười tiêu biểu như làng Văn Lang (Tam Nông Phú Thọ) làng Phụng Pháp (huyện Yên Dũng Bắc Giang) làng Tiên Lục (huyện Lạng Giang Bắc Giang) làng Trúc Ô (huyện Quế Võ Bắc Ninh) làng Vĩnh Hoàng (huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị)... Mỗi làng cười có nghệ thuật gây cười riêng như nói khoác nói tức nói ngang nói giễu nói khoe...

More...

110 NĂM BÀI THƠ VỊNH HOA MAI TRẮNG CỦA SƯƠNG NGUYỆT ÁNH

By

 

        110 NĂM

      BÀI THƠ VỊNH HOA MAI  TRÊN NÚI BÀ ĐEN

 

Sương Nguyệt Ánh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Khuê ( 1864-1922) bút danh là Sương Nguyệt Ánh. (Sinh ngày 8-3-1864 mất ngày 9-1-1922) được coi là người chủ bút nữ đầu tiên của giới báo chí Việt Nam. Bà là con gái thứ tư của của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. 

More...

BÍ ẨN TƯỢNG XÁC CỤ SƯ RAU (Thiền sư Vũ Khác Minh)

By

Bí ẩn nhục thân các thiền sư -

Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau

Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh sau khi tu bổ - Ảnh do tác giả cung cấp

LTS: Trải qua hàng trăm năm với bao biến động dâu bể làm thế nào mà nhục thân các thiền sư vẫn còn lại đến ngày nay? Từ những phát hiện về nhục thân các thiền sư Vũ Khắc Trường Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu thiền sư Chuyết Chuyết ở chùa Phật Tích PGS-TS Nguyễn Lân Cường đã hé mở phần nào những bí ẩn về nghệ thuật táng tượng và thiền táng độc đáo của người Việt trong công trình khoa học “Phía sau nhục thân của các vị thiền sư” vừa được phát hành. Xin giới thiệu đến bạn đọc loạt bài của PGS-TS Nguyễn Lân Cường dành riêng cho Thanh Niên.

Ngày 3.5.1983 theo yêu cầu của Văn phòng 10 Hội đồng Bộ trưởng Viện Khảo cổ học cử một đoàn cán bộ xuống chùa Đậu thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây cũ) để kiểm tra tình trạng xuống cấp của gác chuông. Trong đoàn có tôi. Lang thang vòng ra bên phải sau dãy hành lang tôi thấy một chiếc am nhỏ rêu phong mà bên ngoài cửa phủ mành tre. Nhìn vào bên trong tôi chợt giật mình vì thấy một nhà sư ngồi thiền đôi mắt “lim dim” như đang suy tư về cõi Phật. Từ lâu nhân dân quanh vùng đã truyền tụng với nhau rằng ở chùa Đậu có hai am nằm ở bên phải và bên trái của chùa. Am bên phải là của thiền sư Vũ Khắc Minh bên trái là am thiền sư Vũ Khắc Trường. Chuyện kể rằng khoảng thế kỷ XVII vào một ngày nọ thiền sư Vũ Khắc Minh (mà nhân dân trong vùng quen gọi ngài là cụ sư Rau - nhà sư thường chỉ ăn rau trừ bữa) bước vào trong am và nói với các đệ tử rằng: “Mang cho ta một chum nước uống và một chum dầu để thắp. Khi nào thấy dứt tiếng mõ hãy mở cửa am ra. Nếu thấy thi thể của ta đã hỏng thì dùng đất lấp am đi còn ngược lại thì dùng sơn ta bả lên thi thể...”. Dứt lời cụ bước vào am tọa thiền và chỉ còn nghe vẳng ra tiếng mõ tụng kinh suốt ngày này qua ngày khác. Tròn trăm ngày các đệ tử không nghe thấy tiếng mõ nữa vội mở cửa am ra thì thấy ngài vẫn ngồi đấy như đang trong lúc tọa thiền. Hai chân ken vào nhau đúng vị trí của thiền còn hai tay hơi bị xệ xuống. Nhớ lời thầy dặn họ vội lấy sơn ta bả lên thi hài. Trong cuốn Những chùa đình và nhà thờ của Hà Đông - Phong cảnh Hà Đông xuất bản năm 1932 (tiếng Pháp) tác giả cho rằng đó là những “momies” (xác ướp) kiểu Ai Cập. Thật sai lầm! Tệ hại hơn trong một bài báo đăng trên tờ Thời Mới vào năm 1957 lại có tiêu đề khá giật gân Xác ướp chùa Đậu hàng trăm năm vẫn còn giữ nguyên bộ phận sinh dục! Bằng con mắt nghề nghiệp tôi phát hiện qua vết nứt ở trên trán có xương sọ ở bên trong và thế là tôi nảy ra ý định chụp phim X-quang để chứng minh đây là một nhục thân nguyên dạng. Nếu chứng minh được thì rõ ràng phương thức táng này nằm ngoài 5 táng thức đã có trước đây trên thế giới: địa táng hay thổ táng (chôn trong đất); hỏa táng (đốt thi hài); hải táng hay thủy táng (thả xuống nước); thiên táng hay điểu táng (cho chim ăn để được bay lên trời); huyền táng hay táng treo. Chiều 25.5.1983 tôi chuyển nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh về khoa X-quang Bệnh viện Bạch Mai. Với sự giúp đỡ tận tình của PGS - bác sĩ Đặng Văn Ấn bác sĩ Nguyễn Trọng Đức và các kỹ thuật viên tôi đã tiến hành soi phần sọ ổ ngực và ổ bụng. Qua màn hình tôi thấy toàn bộ xương sườn xương đốt sống đổ sập xuống nằm gọn trong khoang bụng. Rõ ràng không có chất dính giữa các xương đốt sống. Hộp sọ còn nguyên vẹn phần xương lá mía không bị đục vỡ như trên sọ vua Ai Cập Ramsès V để lấy não ra. Từ đó có thể suy ra não và các nội tạng - về mặt lý thuyết - là vẫn còn nguyên trong nhục thân. Kết hợp giữa chiếu và phim chụp có thể thấy rõ các xương dưới sọ như xương cánh tay cổ và bàn tay xương chậu hông đùi xương chày mác và xương cổ chân bàn chân đều nằm đúng với vị trí giải phẫu. Trong các xương không có cốt bằng kim loại rõ ràng đây là một nhục thân nguyên dạng. Bằng phương pháp quang phổ phát xạ vùng tử ngoại và chiếu xạ tia rơn-ghen khi phân tích chất bồi của nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh tiến sĩ Lê Nguyên Sóc cũng đã có kết luận phù hợp với ý kiến của chúng tôi về chất bồi. Đó là hỗn hợp của sơn ta mùn cưa giấy dó và đất... Tôi mừng quá vì như vậy là đã chứng minh được đây là một táng thức mới mà tôi đặt tên là tượng táng (táng theo kiểu làm thành tượng) hay thiền táng (táng theo kiểu ngồi thiền). Sau này tôi mới biết nét văn hóa trên cũng có ở Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên kỹ thuật “Giáp trữ tất” (sơn ta bó lụa) đã được thực hiện khi Lục tổ Huệ Năng (638 - 713) viên tịch. Hiện nay chân thân còn nguyên vẹn để tại Nam Hoa Tự nằm ở phía tây tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc thuộc thôn Nam Hoa huyện Khúc Giang cách TP Quảng Châu về phía tây hơn 230 km. (Còn tiếp) 

PGS-TS Nguyễn Lân Cường

More...

HOÀN CẢNH RA ĐỜI CA KHÚC LÊN NGÀN CỦA NHẠC SĨ HOÀNG VIỆT

By

 

HOÀN CẢNH RA ĐỜI CA KHÚC "LÊN NGÀN"

                    CỦA NHẠC SĨ HOÀNG VIỆT


            Nhạc sĩ Hoàng Việt

     Cùng với những ca khúc "đi cùng năm tháng" như Lá Xanh (1950); Nhạc rừng (1951) đã 57 năm (1952-2009) ca khúc Lên ngàn của nhạc sĩ Hoàng Việt luôn âm vang khúc bi tráng bất hủ. Chưa một người Việt yêu âm nhạc nào quên được giai điệu tha thiết của bài hát thời kháng chiến chống Pháp này.

More...

Ý KIẾN TỪ MỘT BỨC TRANH KHỎA THÂN

By

 

Triển lãm khu vực III Tây Bắc Việt Bắc năm  2009 được tổ chức tại Nhà Văn hoá Lao động tỉnh Phú Thọ từ 10/8-25/8/2009. 268 tác phẩm trưng bày của 234 tác giả được lựa chọn từ 285 tranh tượng của 249 tác giả gửi đến. Các tỉnh tham gia gồm: Phú Thọ Bắc Giang Bắc Kạn Cao Bằng Điện Biên Hà Giang

Trong triển lãm khu vực Tây Bắc Việt Bắc lần này khi hội đồng nghệ thuật của Hội Mỹ thuật còn đang lựa chọn và chấm giải thì  bức hoạ Tuổi dậy thì của nữ hoạ sỹ trẻ vẽ một cô gái khoả thân đứng ngoài đường đã gây ra nhiều tranh cãi. 

More...